Màu Ngói Xưa


Ngọ Môn năm cửa, chín lầu,
Một lầu vàng, tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh,
Sinh em ra phận gái, hỏi chốn Kinh Thành làm chi?

Câu ca dao “gói ghém” từ nỗi niềm của “phận gái” ở cố đô xưa: “Làm thân con gái, chớ nên bén mảng đến chốn thành quách, cung điện làm chi?” cho đến việc khái quát Ngọ Môn, một biểu tượng cho quyền lực của triều đình nhà Nguyễn ở Huế. Ở đây có thấy một điều lạ : tại sao cùng một tòa Ngũ Phụng Lâu lại được lợp hai màu ngói xanh vàng khác nhau?

mai ngoi luu ly
Theo quy định của triều Nguyễn, tất cả các ngôi điện chính, tọa lạc trên trục dũng đạo của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành (như Thái Hòa Điện, Cần Chánh Điện, Càn Thành Điện…) hay trên trục thần đạo của các lăng tẩm; hoặc các công trình nằm ở các khu vực khác nhưng dành cho nhà vua sử dụng hay dùng để thờ cúng các vua chúa nhà Nguyễn (như Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Phụng Tiên Điện… thì mái được lợp ngói hoàng lưu ly (ngói tráng men vàng). Còn các công trình kiến trúc nằm hai bên dũng đạo / thần đạo; các công trình dành cho hoàng gia, quan lại sử dụng (như Trường Sanh Cung, Tả Vu, Hữu Vu, hệ thống trường lang…) thì mái chỉ được lợp ngói thanh lưu ly (ngói tráng men xanh).

Theo Đại Nam Thực Lục chính biên đệ nhất, kỷ triều Gia Long thì tháng 12 năm 1810, nhà vua đã cho mời một số chuyên gia làm gạch ngói từ Trung Quốc đến Huế. Sách có đoạn: Sai bang trưởng Quảng Đông là Hà Đạt Hoà thuê 3 người thợ làm ngói ở Quảng Đông, khiến nung ngói lưu ly các sắc xanh, vàng, lục ở Khố Thượng để công tượng học chế đúng theo như kiểu, xong rồi hậu thưởng cho về. Được sự chỉ đạo, hướng dẫn của các thợ người Hoa ấy, những người thợ Việt Nam đã tiếp thu kỹ thuật một cách nhanh chóng.

Ngói lưu ly được sản xuất tại Khố Thượng (ngày nay là Long Thọ) liên tiếp trong 75 năm (1810-1885), dưới 8 thời vua từ Gia Long đến Hàm Nghi, đã phải dừng lại do biến cố “thất thủ kinh đô” gây ra. Vào năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất bôn, quân đội bị giải tán, những biến cố chính trị khiến cho các đội thợ sành sứ trở về quê quán của họ, một số người đã thiết lập một số lò nhỏ ở Quy Nhơn, Thanh Hóa để sản xuất một vài vật dụng đơn sơ. Trận bão năm Thìn (1904) cũng đã làm cho cơ sở sản xuất ngói lưu ly ở Long Thọ bị sụp đổ và suốt 25 năm sau đó nghệ thuật sành sứ đã đào thoát khỏi vùng Long Thọ.

Ngói lưu ly được sản xuất tại Khố Thượng (ngày nay là Long Thọ) liên tiếp trong 75 năm (1810-1885), dưới 8 thời vua từ Gia Long đến Hàm Nghi, đã phải dừng lại do biến cố “thất thủ kinh đô” gây ra. Vào năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất bôn, quân đội bị giải tán, những biến cố chính trị khiến cho các đội thợ sành sứ trở về quê quán của họ, một số người đã thiết lập một số lò nhỏ ở Quy Nhơn, Thanh Hóa để sản xuất một vài vật dụng đơn sơ. Trận bão năm Thìn (1904) cũng đã làm cho cơ sở sản xuất ngói lưu ly ở Long Thọ bị sụp đổ và suốt 25 năm sau đó nghệ thuật sành sứ đã đào thoát khỏi vùng Long Thọ.

Ngói lợp trong các cung điện ở Huế do lò Long Thọ sản xuất gồm có hai loại: ngói mộc và ngói tráng men.Ở đây ta chỉ lạm bàn đến ngói tráng men hay cụ thể hơn là ba loại: thanh lưu ly, hoàng lưu ly, bích lưu ly.

Hai màu xanh và vàng (thanh lưu ly và hoàng lưu ly) vẫn là hai màu được sử dụng cho ngói tráng men. Như đã đề cập phần ở trên, các cung điện chính, dành cho nhà vua thì được lợp ngói hoàng lưu ly, còn các công trình phụ, công trình dành cho quan lại và hoàng gia thì dùng ngói thanh lưu ly. Nhưng từ triều vua Thành Thái (1889 – 1907) trở đi, do kinh phí eo hẹp, nên khi tu bổ một số công trình, dù là chính điện như Long An Điện (thờ vua Thiệu Trị), Thế Miếu (thờ các vị vua nhà Nguyễn), thậm chí cả Thái Hòa Điện, triều đình buộc phải dùng ngói mộc, thay cho ngói tráng men. Sang triều Khải Định (1916 – 1925), do lò Long Thọ tạm ngưng hoạt động vì các biến cố xảy ra trước đó, ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly không còn được sản xuất, nên khi xây dựng ứng Lăng, sơn phần của nhà vua sau này, vua Khải Định đã mua ngói ardoise (màu đen) từ Pháp về để lợp các công trình kiến trúc như Bi Đình và Thiên Định Cung.

Chữ thanh lưu ly được ghi trong sử sách nhà Nguyễn và được các nhà nghiên cứu và bảo tồn di tích ở Huế dùng để gọi những thứ gạch ngói tráng men màu xanh lá cây. Tuy nhiên, năm 2005, từ một nghiên cứu tại Thiên Đàn ở Bắc Kinh, nơi tế trời của các vị hoàng đế hai triều Minh – Thanh của Trung Quốc, được biết ngói thanh lưu ly hóa ra không phải là ngói tráng men lục. Ở Thiên Đàn Bắc Kinh, gạch và ngói thanh lưu ly đều có màu xanh da trời. Khi người hướng dẫn giải thích: “Tất cả các công trình chính của Thiên Đàn Bắc Kinh đều lợp ngói thanh lưu ly, tức là ngói màu xanh da trời, còn loại ngói lợp cho các công trình phụ ở Thiên Đàn lại có tên là “lục lưu ly”. “Ngói thanh lưu ly rất quý, do chất phát ra màu xanh da trời là oxide cobalt, phải mua từ xứ Ba Tư về, giá rất đắt. Còn chất phát ra màu lục là oxide đồng, Trung Hoa có thể làm được. Vì thế, chỉ có Thiên Đàn và điện Càn Thanh trong Tử Cấm Thành mới được lợp ngói thanh lưu ly”. Chữ Thanh (?) trong Hán tự chỉ màu xanh da trời. Càn Thanh là trời xanh, là nơi vua ở. Hợp lý quá chừng. Hóa ra xưa nay, người Huế đã gọi lục lưu ly thành ra thanh lưu ly, rồi lại dùng gạch ngói có cái màu thanh lưu ly “kiểu Huế” ấy để kiến tạo những công trình thứ yếu của Huế, không đúng với ý nghĩa cao quý của màu thanh lưu ly theo cách hiểu của người Trung Hoa. Nguyên do chuyện này, phải chăng là vì oxide cobalt quá đắt, nên các quan xưởng của triều Nguyễn đã không nhập chất liệu này về để làm nên những viên gạch, viên ngói thanh lưu ly cho đúng nghĩa?

Thanh Nguyên

Về Nhà phân phối Tăng Bình Dương
Tăng Bình Dương là nhà phân phối sỉ và lẻ các loại đá trang trí, gạch ngói, gốm tại tp HCM và các tỉnh thành lân cận. CÔNG TY TNHH TĂNG BÌNH DƯƠNG ĐỊA CHỈ: 15D Quốc Lộ 22 (từ Ngã 4 An Sương đi về hướng Củ Chi, qua 1 đèn đỏ 300 m bên tay phải; nếu tính từ Ngã tư An Sương tới địa chỉ cty đúng 01 km) Phường Trung Mỹ Tây – Quận 12 – TPHCM (Kho hàng ngay Thép Nguyễn Minh đi vào, cổng thứ 2 bên tay trái) ĐIỆN THOẠI: (08) 62.730.748 – HOTLINE: 0903.11.6665/ 0906.322.171 FAX: 08.3718.5775

Bình luận đã được đóng.