Hưng Yên: Đền Kim Đằng

Đền Kim Đằng tọa lạc thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ tướng quân Đinh Điền (một trong những công thần khai quốc Đại Cồ Việt) và phu nhân Phan Thị Môi Nương.

Theo “Đại Nam nhất thống chí”, Đinh Điền là người làng Đại Hữu (nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Thuở nhỏ, ông thường cùng Đinh Bộ Lĩnh và những đứa trẻ cùng làng đi chăn trâu ở Thung Lau (nay là động Hoa Lư, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn) và chơi trò “cờ lau tập trận”. Lớn lên, ông cùng Nguyễn Bặc, Lu Cơ, Trịnh Tú phò tá và giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Sau khi giang sơn thống nhất một mối, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Đinh Điền được Đinh Tiên Hoàng giao chỉ huy 10 đạo quân đi thu phục các sứ quân khác. Trên đường đi, qua trang Đằng Man, tổng An Tảo, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên), thấy thế đất tựa “Thanh Long, Bạch Hổ chầu về”, Đinh Điền liền cho dựng doanh trại và lấy người con gái tên Môi Nương làm vợ.

Đinh Điền mất ngày 17/11 âm lịch năm Kỷ Mão (979). Sau khi ông mất, người dân địa phương đã lập đền thờ trên nền doanh trại để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông.

Đền Kim Đằng

Đền Kim Đằng

Kiến trúc đền mang đậm phong cách thời Lê Trung Hưng (1533 – 1789), gồm Tiền tế và Hậu cung, được xây theo hình chữ đinh. Không gian đền khá rộng, trồng nhiều cây xanh tạo vẻ mát mẻ, thanh tịnh cho toàn bộ kiến trúc. Tiền tế được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái ngói vẩy rồng với 4 góc đao cong đắp nổi đầu rồng. Kết cấu các bộ vì kèo kiểu quá giang đơn giản, được nâng đỡ bằng hệ thống cột gỗ lim vững chắc. Trên đường bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, 2 đầu kìm đắp “lưỡng ngư” (2 con cá chép). Phần cổ diêm giữa hai mái đắp 4 chữ Hán “Đinh Đại Linh Từ”.

Kế tiếp Tiền tế là Hậu cung với mái lợp ngói mũi hài, gồm 3 gian. Kết cấu các vì kèo kiểu con chồng, đấu sen. Trên các con rường được chạm nổi hình hoa lá cách điệu. Tại gian giữa Hậu cung đặt bức tượng tướng quân Đinh Điền và phu nhân Phan Thị Môi Nương trong tư thế ngồi tọa thiền.

Ngoài kiến trúc đặc sắc, đền còn lưu giữ một số bức hoành phi, câu đối ca ngợi những người có công với triều đại nhà Đinh cùng nhiều cổ vật có giá trị như: tượng thờ mang phong cách kiến trúc thế kỷ 17 – 18, 4 đạo sắc phong thời Lê, ngai thờ thời Lê.

Nhằm phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, tri ân công lao của tướng quân Đinh Điền cũng như đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh của người dân địa phương và du khách, lễ hội đền Kim Đằng được tổ chức từ ngày 15 – 17/11 âm lịch hàng năm. Trong những ngày diễn ra lễ hội, ngoài các nghi thức như lễ dâng hương, rước kiệu, còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống khu vực đồng bằng Bắc Bộ như: chọi gà, múa lân, hát nói, hát trống quân, múa rối nước…

Đền Kim Đằng đã được Bộ VHTTDL xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 20/12/1997.

Chống nóng cho ngôi nhà của bạn

để chống nóng cho ngôi nhà của bạn thì bạn nên chú ý đến vật liệu của mái. Nếu không kể đến những vật liệu truyền thống như rơm, rạ, gỗ thì ngói là vật liệu hiện đại tốt nhất để chống nóng, sau đó đến tôn, kém nhất là bê tông và fibro xi măng. So với tôn, vật liệu ngói có thể giảm 40% – 50% hơi nóng.

-Tuy nhiên, thời gian gần đây tôn là loại vật liệu bình dân được sử dụng rộng rãi để chống nóng. Mái tôn nhẹ, dễ thi công, dễ sửa chữa, và giá thành rẻ nhưng về khả năng chống nóng và tính thẩm mỹ thì không thể bằng ngói. Hiện nay trên thị trường có loại tôn PU có đặc tính cách nhiệt, ngăn tiếng ồn, đặc biệt tôn PU còn có loại chống cháy. Nếu nhà bạn làm mái bê tông thì phải sử dụng nhiều những biện pháp hỗ trợ để chống nóng vì khả năng hấp thụ nhiệt của bê tông là rất lớn. Kỹ thuật thi công giảm nhiệt trên mái.

Nhà lợp mái ngói

Nhà lợp mái ngói đất nung 22 viên/m2 Viglacera Hạ Long. Xem thêm thông tin về ngói 22 Hạ Long.

Các kỹ thuật đều dựa trên nguyên tắc bố trí nhiều lớp mái và giữa các lớp có khe đệm thoáng để cách nhiệt.

Đối với mái dốc, biện pháp thông dụng nhất hiện nay là đóng la-phong nhựa hoặc đóng trần thạch cao. Có thể tăng cường hơn nữa khả năng cách nhiệt của mái bằng cách cho một lớp mút dày khoảng 10cm giữa lớp laphong và mái nhà. Nếu nhà bạn lợp mái tôn, có thể lót lớp lót cách nhiệt, foam PU lên mái nhà. Tuy nhiên theo một số chuyên gia thì biện pháp này chi phí khá lớn và cản trở việc quan sát, phát hiện hư hại trên mái, nếu bị dột thì rất khó sửa chữa.

Đối với nhà mái bằng, nhất thiết phải sử dụng gạch chống nóng thì mới có thể giảm được lượng nhiệt khổng lồ mà bê tông hấp thụ từ bức xạ mặt trời. Gạch chống nóng trên thị trường hiện nay rất đa dạng. Loại phổ biến là loại gạch 3 lỗ, 4lỗ, 8 lỗ, 10 lỗ… hay loại gạch chữ U. Với việc tạo ra những lỗ rỗng ở viên gạch nhà chế tạo đã giảm bớt nhiệt hấp thụ trên mái nhà. Lát gạch chống nóng trực tiếp lên mặt trần bê tông sau khi đã quét lớp xi-măng chống thấm, và bên trên lớp gạch này là lớp gạch lát sân.

Một số bí quyết trong thiết kế nhà để chống nóng

Phương pháp mà nhiều gia đình áp dụng là để chống tầng áp mái hoặc bố trí ở đó những không gian phụ như phòng thờ, phòng giặt. Với phương pháp này sẽ tạo ra một khoảng không gian trống để giảm nhiệt cho các phòng chức năng chính ở dưới. Tạo ra một hệ thống phun sương trên mái nhà cũng là một giải pháp tốt.

Bạn có thể tạo vườn cây trên mái là một bí quyết hay và đẹp. Cây xanh sẽ hấp thụ ánh nắng mặt trời, bạn còn có cả không gian tươi mát trong mùa hè. Việc tưới cây cho khu vườn sinh động đó cũng là mũi tên trúng hai đích giảm nhiệt cho mái và chăm sóc cây xanh.

Nếu có điều kiện bạn có thể thiết kế một bể bơi trên mái thì mùa hè sẽ thật tuyệt!

Ý tưởng mới Dư luận gần đây đã xôn xao với một ý tưởng đơn giản nhưng táo bạo của bạn Đỗ Hoàng Giang (SV năm 3 khoa Kỹ thuật tài nguyên nước ĐH Thủy lợi Hà Nội) gây được sự chú ý đặc biệt với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đào Xuân Học. Ý tưởng này cho rằng mỗi gia đình có mái bằng quét sơn chống thấm, tạo ra một bể chứa cao khoảng 15cm – 20 cm để hứng nước sau mỗi trận mưa. Bể chứa nước mưa này vừa giảm lượng nước đổ xuống đường phố, vừa làm nước cho nhà vệ sinh giảm lượng nước sạch sủ dụng trong gia đình và còn để chống nóng cho nhà ở.

Chi phí cho bể nước mưa trên mái khoảng 3–4 triệu đồng cho nhà có diện tích xây dựng khoảng 30-40m2. Đó là một ý tưởng khá bình dân, trong mùa trời nóng như đổ lửa này bạn hãy thử làm xem…

Phương Bee

Phú Thọ: Khánh thành Chùa Thiên Quang

Ngày 9/2, tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức lễ khánh thành Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ thuộc Di tích lịch sử Đền Hùng.

Dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ được tỉnh Phú Thọ phê duyệt từ cuối năm 2012, với mức đầu tư hơn 67 tỷ đồng bao gồm các hạng mục như tu bổ chùa Thiên Quang, phục hồi nhà Tổ và hai dãy hành lang.

Theo thiết kế, dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ về cơ bản giữ nguyên bố cục mặt bằng, kiểu dáng và kích thước kiến trúc cũ. Nền móng giữ nguyên cốt nền cũ, bóc lớp gạch lát cũ rồi lát lại bằng gạch bát theo mạch chữ công, gia cố móng chân cột, móng tường; thay mới 50% mái ngói lợp, 60% ngói lót, 30% hoành và 40% rui…

Ngoài ra, dự án cũng thay thế 7 cột bị hư hỏng nhằm làm tăng khả năng chịu lực của ngôi chùa và nhiều hạng mục công trình khác.

 

Chùa Thiên Quang

Chùa Thiên Quang

Ông Lưu Quang Huy, Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng cho biết, sau khi công trình hạ giải xong, Hội đồng đánh giá di tích nghiên cứu, đánh giá các cấu kiện đã được hạ giải, thống nhất kết luận các cấu kiện rui, hoành đã bị mối, mục, phần còn lại tuy chất liệu gỗ còn tốt nhưng bị võng, cong vênh nên không thể tái sử dụng để thi công lắp đặt công trình cần phải thay mới…

Sau hơn 4 tháng thi công, dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ do Công ty cổ phần Him Lam-Chi nhánh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội tài trợ đã được hoàn thành đưa vào sử dụng, với tổng số tiền đầu tư hơn 60 tỷ đồng.

Công trình hoàn thành có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phục vụ nhân dân cả nước mỗi khi hành hương về cội nguồn thắp nén hương thơm tưởng nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Màu Ngói Xưa

Ngọ Môn năm cửa, chín lầu,
Một lầu vàng, tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh,
Sinh em ra phận gái, hỏi chốn Kinh Thành làm chi?

Câu ca dao “gói ghém” từ nỗi niềm của “phận gái” ở cố đô xưa: “Làm thân con gái, chớ nên bén mảng đến chốn thành quách, cung điện làm chi?” cho đến việc khái quát Ngọ Môn, một biểu tượng cho quyền lực của triều đình nhà Nguyễn ở Huế. Ở đây có thấy một điều lạ : tại sao cùng một tòa Ngũ Phụng Lâu lại được lợp hai màu ngói xanh vàng khác nhau?

mai ngoi luu ly
Theo quy định của triều Nguyễn, tất cả các ngôi điện chính, tọa lạc trên trục dũng đạo của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành (như Thái Hòa Điện, Cần Chánh Điện, Càn Thành Điện…) hay trên trục thần đạo của các lăng tẩm; hoặc các công trình nằm ở các khu vực khác nhưng dành cho nhà vua sử dụng hay dùng để thờ cúng các vua chúa nhà Nguyễn (như Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Phụng Tiên Điện… thì mái được lợp ngói hoàng lưu ly (ngói tráng men vàng). Còn các công trình kiến trúc nằm hai bên dũng đạo / thần đạo; các công trình dành cho hoàng gia, quan lại sử dụng (như Trường Sanh Cung, Tả Vu, Hữu Vu, hệ thống trường lang…) thì mái chỉ được lợp ngói thanh lưu ly (ngói tráng men xanh).

Theo Đại Nam Thực Lục chính biên đệ nhất, kỷ triều Gia Long thì tháng 12 năm 1810, nhà vua đã cho mời một số chuyên gia làm gạch ngói từ Trung Quốc đến Huế. Sách có đoạn: Sai bang trưởng Quảng Đông là Hà Đạt Hoà thuê 3 người thợ làm ngói ở Quảng Đông, khiến nung ngói lưu ly các sắc xanh, vàng, lục ở Khố Thượng để công tượng học chế đúng theo như kiểu, xong rồi hậu thưởng cho về. Được sự chỉ đạo, hướng dẫn của các thợ người Hoa ấy, những người thợ Việt Nam đã tiếp thu kỹ thuật một cách nhanh chóng.

Ngói lưu ly được sản xuất tại Khố Thượng (ngày nay là Long Thọ) liên tiếp trong 75 năm (1810-1885), dưới 8 thời vua từ Gia Long đến Hàm Nghi, đã phải dừng lại do biến cố “thất thủ kinh đô” gây ra. Vào năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất bôn, quân đội bị giải tán, những biến cố chính trị khiến cho các đội thợ sành sứ trở về quê quán của họ, một số người đã thiết lập một số lò nhỏ ở Quy Nhơn, Thanh Hóa để sản xuất một vài vật dụng đơn sơ. Trận bão năm Thìn (1904) cũng đã làm cho cơ sở sản xuất ngói lưu ly ở Long Thọ bị sụp đổ và suốt 25 năm sau đó nghệ thuật sành sứ đã đào thoát khỏi vùng Long Thọ.

Ngói lưu ly được sản xuất tại Khố Thượng (ngày nay là Long Thọ) liên tiếp trong 75 năm (1810-1885), dưới 8 thời vua từ Gia Long đến Hàm Nghi, đã phải dừng lại do biến cố “thất thủ kinh đô” gây ra. Vào năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất bôn, quân đội bị giải tán, những biến cố chính trị khiến cho các đội thợ sành sứ trở về quê quán của họ, một số người đã thiết lập một số lò nhỏ ở Quy Nhơn, Thanh Hóa để sản xuất một vài vật dụng đơn sơ. Trận bão năm Thìn (1904) cũng đã làm cho cơ sở sản xuất ngói lưu ly ở Long Thọ bị sụp đổ và suốt 25 năm sau đó nghệ thuật sành sứ đã đào thoát khỏi vùng Long Thọ.

Ngói lợp trong các cung điện ở Huế do lò Long Thọ sản xuất gồm có hai loại: ngói mộc và ngói tráng men.Ở đây ta chỉ lạm bàn đến ngói tráng men hay cụ thể hơn là ba loại: thanh lưu ly, hoàng lưu ly, bích lưu ly.

Hai màu xanh và vàng (thanh lưu ly và hoàng lưu ly) vẫn là hai màu được sử dụng cho ngói tráng men. Như đã đề cập phần ở trên, các cung điện chính, dành cho nhà vua thì được lợp ngói hoàng lưu ly, còn các công trình phụ, công trình dành cho quan lại và hoàng gia thì dùng ngói thanh lưu ly. Nhưng từ triều vua Thành Thái (1889 – 1907) trở đi, do kinh phí eo hẹp, nên khi tu bổ một số công trình, dù là chính điện như Long An Điện (thờ vua Thiệu Trị), Thế Miếu (thờ các vị vua nhà Nguyễn), thậm chí cả Thái Hòa Điện, triều đình buộc phải dùng ngói mộc, thay cho ngói tráng men. Sang triều Khải Định (1916 – 1925), do lò Long Thọ tạm ngưng hoạt động vì các biến cố xảy ra trước đó, ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly không còn được sản xuất, nên khi xây dựng ứng Lăng, sơn phần của nhà vua sau này, vua Khải Định đã mua ngói ardoise (màu đen) từ Pháp về để lợp các công trình kiến trúc như Bi Đình và Thiên Định Cung.

Chữ thanh lưu ly được ghi trong sử sách nhà Nguyễn và được các nhà nghiên cứu và bảo tồn di tích ở Huế dùng để gọi những thứ gạch ngói tráng men màu xanh lá cây. Tuy nhiên, năm 2005, từ một nghiên cứu tại Thiên Đàn ở Bắc Kinh, nơi tế trời của các vị hoàng đế hai triều Minh – Thanh của Trung Quốc, được biết ngói thanh lưu ly hóa ra không phải là ngói tráng men lục. Ở Thiên Đàn Bắc Kinh, gạch và ngói thanh lưu ly đều có màu xanh da trời. Khi người hướng dẫn giải thích: “Tất cả các công trình chính của Thiên Đàn Bắc Kinh đều lợp ngói thanh lưu ly, tức là ngói màu xanh da trời, còn loại ngói lợp cho các công trình phụ ở Thiên Đàn lại có tên là “lục lưu ly”. “Ngói thanh lưu ly rất quý, do chất phát ra màu xanh da trời là oxide cobalt, phải mua từ xứ Ba Tư về, giá rất đắt. Còn chất phát ra màu lục là oxide đồng, Trung Hoa có thể làm được. Vì thế, chỉ có Thiên Đàn và điện Càn Thanh trong Tử Cấm Thành mới được lợp ngói thanh lưu ly”. Chữ Thanh (?) trong Hán tự chỉ màu xanh da trời. Càn Thanh là trời xanh, là nơi vua ở. Hợp lý quá chừng. Hóa ra xưa nay, người Huế đã gọi lục lưu ly thành ra thanh lưu ly, rồi lại dùng gạch ngói có cái màu thanh lưu ly “kiểu Huế” ấy để kiến tạo những công trình thứ yếu của Huế, không đúng với ý nghĩa cao quý của màu thanh lưu ly theo cách hiểu của người Trung Hoa. Nguyên do chuyện này, phải chăng là vì oxide cobalt quá đắt, nên các quan xưởng của triều Nguyễn đã không nhập chất liệu này về để làm nên những viên gạch, viên ngói thanh lưu ly cho đúng nghĩa?

Thanh Nguyên

Khánh Hòa: Những ngôi chùa giữa biển Trường Sa

Giữa khơi xa trập trùng sóng vỗ, hiển hiện trên mầu xanh của biển trời Trường Sa và mầu xanh của những hàng cây phong ba vững vàng trước gió bão, vẫn mềm mại, thân thương một dáng hình chùa Việt, vẳng tiếng chuông ngân yên bình giữa thinh không.

Ngay từ những năm tháng xa xưa, khi Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải vâng lệnh chúa Nguyễn ra hai vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để tuần tra, khai thác hải sản, họ và các ngư dân Việt Nam đã dựng lên trên nhiều đảo không chỉ có bia mốc ghi dấu chủ quyền đất nước mà còn cả những am thờ, miếu thờ để cầu trời, khấn Phật phù hộ, độ trì. Trong công cuộc khai phá lãnh thổ, khẳng định và bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông những am, miếu, ngôi chùa chính là nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh của nhân dân.

 

Nhân dân và khách thăm viếng chùa trên đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa).

Nhân dân và khách thăm viếng chùa trên đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa).

Chùa ở Trường Sa mang nét đặc trưng kiến trúc của chùa Việt Nam truyền thống và đều đặt ở vị trí hướng mặt về Thủ đô Hà Nội với mái cong, ngói vẩy có đầu đao, thường là theo kiểu kiến trúc một gian, hai chái hoặc ba gian, hai chái tuỳ theo quy mô diện tích. Các công trình phần lớn đều được xây bằng đá, gạch và các loại gỗ quý bền, chắc. Trong chùa có nhiều bức hoành phi, câu đối sơn son, thếp vàng bằng chữ quốc ngữ thể hiện theo kiểu thư pháp. Chùa lớn nhất và cũng là ngôi chùa nằm ở hòn đảo xa nhất trong quần đảo Trường Sa là chùa Song Tử Tây. Chùa có tam quan hai tầng, tám mái, chính điện ba gian, hai chái, có tả hữu vu cùng khuôn viên sân vườn khá đẹp. Ngôi chùa được thiết kế phù hợp với tổng thể quy hoạch kiến trúc khu dân cư và các công trình như hải đăng và tượng đài Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo trên đảo, tạo thành một quần thể kiến trúc văn hóa – lịch sử và tâm linh tiêu biểu của người Việt trên Biển Đông. Đứng thứ hai về quy mô là chùa trên đảo Trường Sa Lớn nằm ở trung tâm thị trấn Trường Sa có hệ thống sân vườn khá rộng và tòa chính điện gồm một gian, hai chái bên trong có tượng Phật bằng đá quý mầu trắng là quà tặng của Liên đoàn Phật giáo Thế giới tặng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng đã tặng lại chùa. Nhỏ hơn hai ngôi chùa trên là chùa trên đảo Sinh Tồn có dáng vẻ bình dị của ngôi chùa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ với một gian, hai chái, tường bao trổ hoa, nhưng điều đặc biệt là trong sân vườn của chùa có những cây bồ đề xanh ngắt buông tán bên những cây bàng vuông và hàng phong ba cứng cáp.

Những ngôi chùa trên các đảo của Trường Sa từ lâu nay đã có các sư trụ trì và là nơi thường xuyên được ngư dân ghé vào thăm viếng, thắp hương lễ Phật cầu cho quốc thái dân an, cho biển thuận, gió hòa. Tại đây cũng thường xuyên diễn ra những lễ hội, cầu siêu cho các Anh hùng liệt sĩ và bao thế hệ người Việt đã bỏ mình trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có thể nói, những ngôi chùa đã trở thành biểu tượng của văn hóa tâm linh Việt, thể hiện khát vọng hòa bình và là sự khẳng định đầy thuyết phục, tiếp nối liên tục quá trình thực thi chủ quyền dân tộc trên hai vùng quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

NGUYÊN HÙNG
BÁO NHÂN DÂN

Công trình nhà cô ba Hóc Môn

Đây là công trình nhà ở tư gia của cô Ba, địa chỉ tại xã Hưng Lân, Bà Điểm, Hóc Môn.

Khu nhà được xây dựng trên khuôn viên đất rộng, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá tự nhiên (đá băm giả cổ đen và đá băm giả cổ xanh rêu). Bên trong nhà có dán điểm một số khu vực cũng bằng đá tự nhiên (đá bóc vàng, đá mài bóng vàng, đá ghép 4 màu đỏ). Mái nhà được lợp bằng ngói màu 2 màu đen đỏ Mỹ Xuân. Ống khói nhà sử dụng gốm 2 màu. Góc chữ A được ốp bằng gạch thẻ cotto Hạ Long 2 màu đỏ kem.
Cổng nhà ốp bằng đá bóc đen, mái cổng cũng dùng chung với loại ngói lợp mái nhà: ngói bê tông sơn 2 màu đen  đỏ.

Tường bao và chân tường được ốp bằng đá chẻ tự do.

Dưới đây là một số hình ảnh về ngôi nhà:

Công trình Nhà thờ Đồng Tiến Quận 10, TPHCM

Nhà thờ Đồng Tiến tọa lạc trên đường Thành Thái, quận 10 TPHCM.

Giai đoạn thi công hoàn thiện của công trình bắt đầu từ giữa năm 2013. Công ty TNHH Tăng Bình Dương đã đảm nhận cung cấp các loại đá trang trí và  ngói lợp cho công trình nhà thờ Đồng Tiến.

+ Ngói lợp xi măng màu xanh lá cây

+ Đá bóc vàng 10×20 cm ốp các tháp chuông nhà thờ,  ốp phần tường sau ban thờ ở đại sảnh, và ốp các trụ hàng rào

+ Đá mài bóng da báo ốp phần tường bên dưới.

+ Đá ghép walling đồng bạc ốp phần vòm tường sau ban thờ

+ Đá chẻ tự do ốp chân tường