Thanh Hóa: Phát huy giá trị di sản văn hóa – lịch sử Lam Kinh

Cứ vào dịp “Hăm mốt Lê Lai, Hăm hai Lê Lợi”, khách thập phương lại về Lam Kinh tụ hội. Quê hương của người Anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thế kỷ XV luôn khơi dậy niềm tự hào, định hình tâm lý hướng cội trong mỗi đứa con xa.

Bà Nguyễn Thị Huệ, đến từ TP Hồ Chí Minh bộc bạch: “Năm nay tôi đã 80 tuổi nên càng quyết tâm cùng con cháu về Thanh Hóa tham quan quần thể di tích Lam Kinh. Xa quê, tôi luôn nhớ về đất tổ, khắc ghi công lao của các thế hệ hiền nhân đã gây dựng nên non sông, gấm vóc nước nhà”.

Từ mảnh đất của các anh hùng hào kiệt

Từ đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa, sau khi dâng hương tưởng niệm các hoàng thân, quốc thích triều Hậu Lê tại đền nhà Lê ở phường Đông Vệ, hay thắp hương tưởng niệm người Anh hùng dân tộc tại tượng đài Lê Lợi ở trung tâm TP Thanh Hóa, du khách có thể theo quốc lộ 47, hướng về vùng thượng du Thanh Hóa, nơi có núi Mục, núi Dầu, những địa danh gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Mới đây, tại hội thảo khoa học tổ chức tại huyện Thường Xuân, nhiều nhà khoa học cho rằng Lũng Mi, thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân là nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai của các anh hùng hào kiệt, nguyện một lòng đánh giặc cứu nước vào năm 1416.
Theo giáo sư Vũ Ngọc Khánh, động cơ của cuộc khởi nghĩa không phải vì “có chí làm vua”, mà chủ yếu vì tình hình đất nước, vì cuộc sống thảm khốc của nhân dân bấy giờ. Chính vì vậy những người tham gia hội thề “tự nhận lấy nhiệm vụ giải phóng quê hương, làm cho xóm làng được ăn ở yên lành”. Theo đó, Lê Lợi đã quy tụ được hào kiệt bốn phương, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân nhằm hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc.
Từ buổi ban đầu “nếm mật nằm gai”, nhưng “chiến sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, thực phương châm “dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”, nghĩa quân Lam Sơn hoạt động khắp vùng miền núi Thanh Hóa rồi chuyển hướng chiến lược, mở rộng địa bàn vào Nghệ An, phát triển vùng giải phóng đến tận đèo Hải Vân. Nhận thấy tương quan lực lượng, cục diện chiến tranh chuyển biến mau lẹ, năm 1426, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định mở cuộc tiến công chiến lược ra Bắc.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên thực tế đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Với chiến thắng Tốt Động – Chúc Động vang dội, thừa thắng tiến tới vây thành Đông Quan và các thành lũy khác, thực hiện kế sách “đánh vào lòng người”, chặn đánh tan các đạo quân Minh tăng viện tại Chi Lăng, đánh chiếm thành Xương Giang; tiếp tục thực thi đồng bộ các mũi giáp công, nhất là quán triệt phương châm “lấy đại nghĩa thắng hung tàn/ lấy chí nhân thay cường bạo”, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã “mở đường hiếu sinh” cho Vương Thông cùng tàn binh rút về nước.
Vậy là, “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới”.

Cùng với việc thực thi các chính sách khôi phục, phát triển kinh tế, tiến hành khai hoang lấn biển, xây dựng quân đội, quốc phòng, ban hành “Lê triều hình luật”, triều Hậu Lê còn đạt những thành tựu nổi bật trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, giáo dục khoa cử và Nho giáo trở thành quốc giáo. Triều đại phong kiến thịnh trị được vinh danh trong chính sử, lưu truyền trong dòng chảy văn hóa dân gian và hàng loạt tác phẩm văn học, trong đó có “Đại cáo bình Ngô”, áng anh hùng ca tổng kết tài tình cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc của thế kỷ XV.

Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất (1428); đặt quốc đô tại Thăng Long, gọi là Đông Kinh; đồng thời chủ trương xây dựng ở quê hương Lam Sơn một khu kinh thành thứ hai gọi là Lam Kinh.
Theo cổ sử, tháng 11-1429, vua Lê Thái Tổ về Tây Đô bái yết sơn lăng và ngày 10-6-1430 triều đình ban luật lệ đổi “Đông Đô” làm “Đông Kinh”, “Tây Đô” thành “Tây Kinh”.

Tới công cuộc tôn tạo, tái thiết

Các tòa thái miếu được phục dựng ở Lam Kinh.

Các tòa thái miếu được phục dựng ở Lam Kinh.

Gần sáu trăm năm trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt, chịu tác động sâu sắc bởi hoàn cảnh chiến tranh, Lam Kinh chỉ còn lưu giữ được những giá trị nguyên gốc dưới lòng đất, phần lớn những công trình kiến trúc thời Hậu Lê được xây dựng ở “Tây Kinh” không còn tồn tại trên mặt đất. Ngay nhà bia che bia Vĩnh Lăng, nội dung bia khắc ghi về quê hương, gia tộc, thân thế và sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ cũng mới được xây dựng vào năm 1961.

Ngày 22-10-1994, Thủ tướng Chính phủ có quyết định 609/QĐ-TTg phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể về tu bổ, phục hồi và tôn tạo khu di tích lịch sử Lam Kinh. Từ đây, nhiều nhóm giải pháp được thực thi nhằm bảo lưu tính nguyên gốc, từng bước phục hồi, tôn tạo, phát huy giá trị của quần thể di tích này. Di tích lịch sử Lam Kinh được khoanh vùng quản lý, bảo vệ 250 héc-ta, trong đó có 100 héc-ta thuộc khu vực I được phải bảo vệ nghiêm ngặt và 150 héc-ta khu vực II.

Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã thực hiện bảy lần khai quật khảo cổ học khu vực này phát lộ các tầng văn hóa cùng các di vật hiện tồn trong lòng đất, nhất là phát lộ toàn bộ nền móng, quy mô kiến trúc, cấu trúc các đơn nguyên và sưu tầm được hàng chục nghìn hiện vật có niên đại thời Lê sơ như nhóm vật liệu kiến trúc, xây dựng, đồ thờ, đồ gia dụng. Các hiện vật được phát hiện, góp phần bổ sung những luận cứ khoa học, được tư vấn, thiết kế, chủ đầu tư ứng dụng trong phục chế, sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ hoạt động phục dựng, tôn tạo các hạng mục công trình thuộc quần thể di tích lịch sử Lam Kinh.
Trưởng Ban quản lý di tích Lam Kinh Trịnh Đình Dương khẳng định, gần 20 năm tổ chức các hoạt động nghiên cứu; kiện toàn bộ máy quản lý, bảo vệ, khai thác; thực hiện phục dựng, trùng tu, tôn tạo các hạng mục công trình thuộc quần thể di tích này, Lam Kinh dần thoát khỏi tình trạng “ẩn tích”.

Khuya luống, một loại hình văn hóa truyền thống còn bảo lưu trong cộng đồng người Thái ở huyện Thường Xuân.

Khuya luống, một loại hình văn hóa truyền thống còn bảo lưu trong cộng đồng người Thái ở huyện Thường Xuân.

Ngoài chính điện Lam Kinh đang trong giai đoạn phục dựng, hàng chục hạng mục công trình như năm tòa thái miếu, sân rồng, sông Ngọc, cầu Bạch, giếng vua, hệ thống các lăng mộ, nhà bia, đường tham quan, rồi đền thời Trung Túc Vương Lê Lai ở làng Như Áng, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, đền thờ vua Lê Thái Tổ ở xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân được phục dựng, trùng tu, tôn tạo; xây dựng thêm nhóm công trình tôn vinh đáp ứng mong mỏi của nhân dân, gắn bảo lưu giá trị nguyên gốc đi đôi phát huy, khai thác hiệu quả thế mạnh du lịch tâm linh của quần thể di tích, di sản này.

Và những thành công

Năm 2012, khu di tích đón được 60.000 lượt khách, tăng 20% so với năm trước, trong đó có 700 lượt khách đến từ các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ…
Tám tháng đầu năm nay, khu di tích đã đón, phục vụ 50.000 lượt khách tham quan. Tỉnh Thanh Hóa đã công bố quy hoạch khu phát triển du lịch rộng 300 héc-ta, ban hành chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư, tổ chức các loại hình dịch vụ nhằm có thêm nhiều sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu của du khách.

Lam Kinh mùa thu này, đã hiện hữu những công trình kiến trúc thâm nghiêm giữa quần thể thực vật xanh tươi đặc trưng bởi các loài cây bản địa như lim, lát, sến, táu, de, dổi, đa, rưới… trong đó có 18 cây mới, được Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận cây di sản.
Thành điện Lam Kinh, tọa lạc trên dải đất cao, mặt chính nam nhìn ra sông Chu và núi Chúa. Bên tả là núi rừng Phú Lâm, núi Ngọc Giăng Đèn thành hình cánh cung; bên hữu là núi Hướng, núi Hàm Rồng che chắn phía tây.

Từ nhà trưng bày, nơi lưu giữ, giới thiệu 20.000 cổ vật, trong đó có những viên gạch vồ, ngói nóc kích thước lớn, ngói mũi hài, trang trí hình rồng, đầu kìm nóc tinh sảo, các đồ sứ gia dụng men ngà, xương mỏng như vỏ trứng; du khách vượt qua cầu Bạch, ghé thăm giếng vua phía đông, cây đa cổ thụ mới được công nhận cây di sản, đi về phía tây tham quan bia Vĩnh Lăng làm bằng đá trầm tích biền nguyên khối, cao 2,79 mét, rộng 1,94 mét, dày 27 cm, đặt trên lưng một con rùa lớn tạc cùng loại đá còn lưu dấu vết vỏ áo các loài nhuyễn thể sống trong nước biển như trai, sò, hến…

Bước vào sân Rồng, du khách sẽ được thưởng lãm quy mô kiến trúc rộng lớn của chính điện Lam Kinh gồm có điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu và điện Diên Khánh đang phục dựng dở dang, nổi bật kiến trúc gỗ hai tầng mái, trong đó hàng cột cái có đường kính tới 62 cm. Phía sau là chín tòa thái miếu thờ Thái hoàng, Thái phi, trong đó có năm tòa thái miếu đã hoàn thành việc phục dựng.
Để tưởng niệm hoàng thân quốc thích triều Hậu Lê, du khách nhớ đến dâng hương tại các khu lăng mộ, tri ân các vị vua anh minh, tìm hiểu nét đặc trưng của tượng phỗng, mỗi con giống, một số loài thực vật khu vực này.

Một cảnh trong lễ hội Lam Kinh truyền thống.

Một cảnh trong lễ hội Lam Kinh truyền thống.

Nhằm phát huy giá trị di sản, năm 2005, tỉnh Thanh Hóa từng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trợ giúp, nghiên cứu, khôi phục lễ hội truyền thống Lam Kinh, nhất là các trò diễn cung đình, dân gian đặc trưng ở vùng đất Lam Sơn. Ban quản lý di tích cũng chủ động triển khai sưu tầm các tri thức dân gian, truyền thuyết về nghĩa quân Lam Sơn, các nghề thủ công truyền thống; đặc biệt quần chúng nhân dân vùng đất Lam Sơn đã sưu tầm, hiến tặng hàng nghìn hiện vật thời kỳ Lê Sơ, Lê Trung Hưng bổ sung, làm giàu có thêm kho tàng di sản vật thể trong không gian văn hóa Lam Sơn.

Năm nay, tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt, gắn với kỷ niệm 595 năm khởi nghĩa Lam Sơn và 580 năm ngày mất Anh hùng dân tộc Lê Lợi vào các ngày 24 đến 26 tháng 9 (tức từ 20 đến 22 tháng 8 Âm lịch), chính lễ tổ chức vào sáng ngày 26-9 tại sân rồng, trước chính điện Lam Kinh.
Ngoài phần lễ được tổ chức theo nghi thức truyền thống, trọng tâm là chương trình nghệ thuật sân khấu hóa tái hiện cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gian lao, anh dũng và thắng lợi vẻ vang; những thành tựu nổi bật thời Hậu Lê thịnh trị, nhất là các hoạt động văn hóa cung đình, trò chơi trò diễn dân gian đặc trưng của vùng đất xứ Thanh.

Cũng trong dịp này, tại các khu di tích vệ tinh như đền nhà Lê, tượng đài Lê Lợi ở TP Thanh Hóa, đền thờ Lê Lai ở Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc… diễn ra các hoạt động tri ân cùng những hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT đa dạng. Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng tổ chức trình chiếu các phim tư liệu về Danh nhân đất Việt, phim truyện nhựa về đề tài lịch sử; các phóng sự tài liệu về Lễ hội Lam Kinh, giới thiệu về quần thể di tích Lam Kinh phục vụ đồng bào các dân tộc vùng thượng du Thanh Hóa.

Di tích Lam Kinh luôn gắn kết với các di sản, danh thắng trong không gian văn hóa xứ Thanh như di sản văn hóa thế giới thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc); suối cá Cẩm Lương (Cẩm Thủy), công trình Hồ thủy lợi-thủy điện, đền Cửa Đạt; khu bảo tồn Xuân Liên (Thường Xuân), Phủ Na, Am Tiên (Triệu Sơn)…
Theo đó, về với Lam Kinh ngoài giải tỏa nhu cầu về đời sống tâm linh, tìm hiểu lịch sử truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; từ đây du khách có thể tiếp tục hành trình đến các vùng văn hóa, di tích, danh thắng trong tỉnh để hiểu, biết nhiều hơn bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương “địa linh, nhân kiệt”.

MAI LUẬN
BÁO NHÂN DÂN

Advertisements

Hà Nội: Nghè Lê Xá

Sự tích, lai lịch của các vị thành hoàng làng được ghi chép rất tỷ mỷ trong cuốn thần tích hiện còn được lưu giữ trong di tích Nghè Lê Xá, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm.

Ba anh em họ Đào hay còn gọi là Đào Tam Lang là những người đã có nhiều công lao trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi non sông ngay từ những năm đầu công nguyên. Tinh thần yêu nước, thương nòi của các vị thành hoàng bắt nguồn từ truyền thống quý báu được hun đúc, kết tinh lại thành sức mạnh dân tộc mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm. Đúng như Sách Lịch sử Việt Nam tập I – NXBKHXH nhận định: “…đó là sự kết tinh của quá trình đấu tranh có khi âm thầm, khi công khai của nhân dân Việt Nam, đó là một phong trào nổi dậy của toàn dân, vừa quy tụ, vừa tỏa rộng trên toàn cõi Âu Lạc, là bằng chứng hùng hồn của tinh thần yêu nước, yêu tự do cũng như khí phách quật khởi của nhân dân ta hồi đó”, “…đó là tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam vô địch, coi độc lập dân tộc là cái quý báu nhất. Kỷ Trưng Vương không dài nhưng đã mở đầu cho kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên đi vào cuộc trường binh nghìn năm chống Bắc thuộc kết thúc bằng chiến thắng của Ngô Quyền năm 938”.
Có thể nói cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng với sự tham gia của nhiều tướng lĩnh, trong đó có ba anh em nhà họ Đào đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta và làm rạng rỡ cho Thủ đô Hà Nội. Dân gian cũng còn nhiều câu đối ca ngợi công tích của ba anh em nhà họ Đào như:
Ải Bắc tức chinh trần, công cao trục Định
Hồ Tây dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng
Tạm dịch:
Ải Bắc yên gió bụi can qua, công đầu đuổi Tô Định
Hồ Tây nổi ba đào căm giận, nghĩa nặng phù Trưng Vương

Để tưởng nhớ công ơn của ba anh em họ Đào, nhân dân Đa Tốn đã lập miếu thờ (Đào Đô Thống thờ ở miếu Sén Tóc, thôn Ngọc Động. Đào Chiêu Hiển thờ ở Nghè Ông Hai, thôn Lê Xá và Đào Tam Lang thờ ở nghè cũ sau chuyển về nghè Lê Xá). Về sau, từ thế kỷ XVII trở đi, dân làng Ngọc Động và Lê Xá đã thờ ba ông làm thành hoàng làng.

Nghè Lê Xá

Nghè Lê Xá

Nghè Lê Xá là một công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng được khởi dựng sớm của nhân dân trong vùng. Qua các đợt nghiên cứu khảo sát, cho đến nay chưa có tài liệu nào ghi chép cụ thể về niên đại khởi dựng của di tích. Căn cứ vào tài liệu Hán Nôm có niên đại sớm nhất còn trong di tích, đó là đạo sắc năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767) có thể nhận định niên đại khởi dựng của di tích vào thời Lê trước năm 1767 rất lâu và được trùng tu vào các thời kỳ tiếp theo. Thời Nguyễn, nghè được trùng tu lớn, thời kỳ cải cách ruộng đất, nghè bị tàn phá, đến năm 1989 nhân dân địa phương mới khôi phục nghè với quy mô, diện mạo như ngày nay.
Nghè Lê Xá tọa lạc ở giữa khu trung tâm cư trú của làng. Các công trình kiến trúc được bố trí hài hòa với cảnh quan môi trường xung quanh. Phần trang trí trên kiến trúc nhẹ nhàng chủ yếu với các đề tài quen thuộc như vân mây, vân dấu hỏi, rồng chầu, hoa dây..
Nhà Tiền tế gồm ba gian hai dĩ, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói mũi hài. Phía trước trổ ba cửa bức bàn không trang trí hoa văn. Bộ khung gồm bốn bộ vì. Phần trang trí trên kiến trúc chủ yếu là bào trơn, bào soi không trang trí hoa văn. Phía trên gian giữa treo bức đại tự “Tham vi tam” hai bên là hai câu đối:
“Tam thánh nhất tâm thu nguyệt Hàn giang lưu nhuận trạch
Nhị thôn bách tính xuân đài Thọ vực nhạ hồng hưu”
Tạm dịch:
Ba Thánh một lòng, trăng thu trên sông Hàn chảy thấm khắp nơi
Hai thông trăm họ, hoa xuân nơi vực Thọ rước vào điềm lành lớn
Hậu cung gồm hai gian xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh không trang trí. Nền nhà lát gạch bát, phía trước trổ ba cửa, cửa giữa làm dạng bức bàn, hai cửa bên dạng cửa nách. Bộ khung tòa hậu cung gồm ba bộ vì được kết cấu theo kiểu “chồng rường”. Sát hồi tường hậu xây bệ cao để đặt khám thờ các vị thành hoàng làng. Khám có dạng hình chữ nhật, phía trên chạm bong, chạm nổi, chạm thủng các đề tài trang trí như rồng chầu mặt trời, tứ linh, tứ quý và cuốn thư, hoa văn, hổ phù ….Mặt dưới của khám trổ bốn cửa theo dạng “thượng song hạ bản”. Bên trong khám là ngai thờ, mũ áo của các vị thành hoàng làng. Gian ngoài hậu cung xây thêm một bệ thờ thấp hơn để bài trí đồ thờ, hai bên là hai bộ chấp kích.
Nhà mẫu nằm sát bên phải nghè gồm hai gian nhỏ được nhân dân địa phương xây lên để thờ Tam toà Thánh Mẫu, một tín ngưỡng bản địa ăn sâu vào tiềm thức của người Việt. Nhà được xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc, bờ dải không trang trí. Bộ khung gồm ba bộ vì có kết cấu kiểu “kèo cầu quá giang trốn cột”, nền nhà lát gạch hoa. Gian giữa xây bệ thờ làm nơi đặt tượng Tam toà thánh mẫu và các tượng cô, cậu.
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, nghè Lê Xá còn bảo lưu được một hệ thống di vật đa dạng và phong phú về chủng loại và chất liệu như đồ gỗ, đồ đồng, đồ gốm sứ, đồ giấy… mang giá trị lịch sử nghệ thuật cao như 31 pho tượng lớn nhỏ, ba bức đại tự sơn thếp vàng, hai chuông đồng (trong đó có một chuông cổ “Quang Khánh tự chung” niên hiệu Minh Mệnh thứ XIX), bốn bia đá, kiệu bát cống, kiệu long đình, hương án, ngai thờ, cửa võng, khám thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối… mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thời Nguyễn và góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hoá dân gian truyền thống Việt Nam. Đáng lưu ý là hệ thống di vật bằng chữ Hán như cuốn thần phả, 6 đạo sắc phong với hai đạo sắc có niên đại Cảnh Hưng thứ 28 (1767) và Cảnh Hưng thứ 44 (1784). Đây là những tư liệu quý không chỉ giúp cho việc khẳng định về công lao, sự nghiệp của các vị thành hoàng mà còn giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về địa chí, tập tục, là bằng chứng khẳng định về sự tồn tại, ra đời và phát triển của di tích trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc.
Hàng năm vào ngày 10 tháng 2 âm lịch, nhân dân thôn Lê Xá và Ngọc Động lại tổ chức lễ hội long trọng để tưởng nhớ đến công trạng của các vị thành hoàng làng. Giữa hai thôn có tục kết chạ, nên trong ngày lễ hội có tục rước long ngai bài vị thành hoàng làng từ Lê Xá lên Ngọc Động và đến dịp lễ hội năm sau lại rước từ Ngọc Động về Lê Xá. Lễ vật cúng tế gồm thủ lợn, xôi trắng. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống.
Với những giá trị văn hóa lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, Nghè Lê Xá đã được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội ra Quyết định xếp hạng là di tích Lịch sử nghệ thuật.

Quảng Ngãi: Làng gốm Thanh Hà

Từ phố cổ Hội An, thuê 25 nghìn đồng/chiếc xe đạp, đạp chừng ba km về hướng tây dọc theo dòng sông Thu Bồn, chúng tôi về làng gốm Thanh Hà, nơi có những sản phẩm gốm nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam và là một trong những điểm du lịch thu hút khá đông khách trong nước, nước ngoài đến thăm, mua đồ.
Không hẹn mà gặp, khi chúng tôi đến đầu làng (phường Thanh Hà) cô cháu họ cụ Ðón, chị Bùi Thị Tường Vi đón chúng tôi ngay tại đầu làng, nơi treo tấm ảnh nghệ nhân Phạm Thị Ðón trên tay với những sản phẩm đặc trưng của làng tươi cười mời chào du khách đến thăm. Vừa đi, Vi vừa giới thiệu sơ qua về làng gốm. Chị nói: nếu các anh, chị muốn biết kỹ hơn về lịch sử của làng thì gặp bà em, hiện cụ là một trong bốn nghệ nhân cao tuổi của làng.

Cụ Ðón đang nặn đồ gốm.

Cụ Ðón đang nặn đồ gốm.

Tiếp chúng tôi ngay tại nơi sản xuất, cụ Phạn Thị Ðón, 86 tuổi, tuy mắt đã mờ, nhưng còn minh mẫn và nhanh nhẹn, hai bàn tay cụ thoăn thoắt tạo nặn, miệng hướng dẫn du khách làm ra những sản phẩm theo ý muốn của mình. Cụ Ðón bộc bạch: Cư dân Thanh Hà có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nam Ðịnh, Hải Dương vào định cư từ khoảng cuối thế kỷ 15. Trong buổi sơ khai, khi đồ dùng của đại bộ phận dân cư chủ yếu là đồ gốm sứ, đất nung thì cư dân ở đây đã tiếp tục truyền thống của cha ông, khai thác địa thế thuận lợi của vùng đất mới để phát triển nghề gốm. Theo cách nhớ của người làng Thanh Hà thì năm 1516, nghề gốm bắt đầu sản xuất tại làng Thanh Chiêm (nay là khối phố 6 phường Thanh Hà), nhưng do không hợp phong thủy nên dời lên Nam Diêu (tức khối phố 5 phường Thanh Hà). Nam Diêu có nghĩa là lò gốm phía nam. Hiện nay, tại Nam Diêu còn miếu Tổ nghề của làng. Hằng năm, người dân làng gốm tổ chức lễ tế Xuân vào ngày mùng mười tháng Giêng nhằm cúng tổ tiên, mong cho chư thần, tổ nghề và các bậc tiền nhân ban cho năm mới bình an, làng nghề phát triển. Nhiều thế kỷ qua, nghề làm gốm và gạch ngói ở Thanh Hà nổi tiếng không chỉ ở xứ Quảng mà cả nước và nước ngoài. Tại Ðình thờ làng nghề ghi rõ: “… Sản phẩm gốm Nam Diêu, Thanh Hà chủ yếu không có men, xương gốm mịn, hình dáng cân đối, mềm mại. Một số đồ gia dụng còn được điểm xuyết hoa văn viền chỉ nổi ở quanh vai hoặc có men đơn sắc mầu nâu đen, vàng sậm… Trong lịch sử, do có vị trí cận thị, cận giang cùng với đội ngũ vận tải bằng ghe bầu đông đảo nên sản phẩm gốm Nam Diêu, Thanh Hà không chỉ tiêu thụ mạnh ở cảng thị Hội An, các tỉnh duyên hải miền trung mà có giai đoạn còn là một mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Sản phẩm gốm Thanh Hà đã được sách Ðại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi danh trong phần thổ sản tỉnh Quảng Nam…”.

Cụ Ðón vốn không phải là người gốc của làng gốm Thanh Hà, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cụ được ông, bà Bùi Thanh Mai (chủ lò gốm hiện nay) đón về nuôi từ khi mới 20 tuổi. Khi đó, cụ Ðón không được học nghề vì nghề này chỉ truyền lại cho con, cháu trong làng, nhưng với quyết tâm học được nghề, cụ lân la làm quen, nhìn từng động tác nắn, vuốt, tạo hình và rồi những sản phẩm cụ làm ra không thua kém gì những thợ được truyền nghề. Từ đó, cụ chính thức trở thành người làm gốm và là một trong bốn cụ có tuổi đời gần 90 trở lên, gồm các cụ: Nguyễn Thị Ðược (Phú); Lê Thị Chiến (Ðông) và Lê Trạch, được Nhà nước công nhận là nghệ nhân.

Làng gốm phường Thanh Hà có 302 hộ, với 1.537 nhân khẩu, nhưng chỉ có 25 hộ theo nghề. Khối phó an ninh phường, cũng là người làm gốm, anh Lê Văn Xê cho biết: Ðất sét lấy về dùng xuồng xăm kỹ, nhào nhuyễn rồi dùng kéo xén đất, cắt mỏng ba đến bốn lần. Sau đó dùng sức người đạp đi đạp lại để tăng độ liên kết. Khi đất đã được luyện kỹ thì chia thành từng phần mới bắt đầu tạo dáng. Muốn tạo dáng trước tiên phải chuốt. Khi chuốt phải có hai người, một người đứng một chân còn chân kia đạp bàn xoay trong khi đó hai tay làm con đất. Người còn lại lấy con đất đặt lên bàn xoay, cuốn thành hình sâu kèn rồi dùng cái sò, vòng, giẻ thấm nước để tạo dáng sản phẩm. Khi đã tạo dáng xong thì đem ra ngoài nắng phơi. Phơi gốm se lại thì sẽ dập hoa văn hay trang trí tùy ý. Ðối với sản phẩm có đáy bầu sau khi phơi se lại thì được đưa vào bàn xoay lần thứ hai úp ngược để tạo dáng. Gốm được phơi kỹ thì chất vào lò, nhóm lửa khoảng bảy đến tám giờ thì xem khói đốt đã hết mới bắt đầu đốt thật lớn cho đến độ thì tắt lửa. Người thợ dùng “gốm thăm” trong lò kéo ra để thử. Nghỉ lửa thì phá cửa lò cho rộng để mau nguội khoảng 12 tiếng đồng hồ sau cho ra lò. Thời gian nung một lò tổng cộng trong 25 ngày. Gốm ở Thanh Hà chủ yếu là gốm sành nâu, thỉnh thoảng có gốm tráng men. Sản phẩm phong phú đa dạng như bình vôi ăn trầu, chân đèn, tò he, tu huýt, ngói âm dương, ngói vẩy cá

Ðang dở câu chuyện bất chợt cơn mưa ập đến, xin lỗi khách, anh Xê vội chạy ra cùng người nhà cất đồ đang phơi nắng. Như anh nói, các sản phẩm của làng chủ yếu là gốm thô, vì vậy sau khi nặn xong đem phơi nắng cho khô, tiếp đó trình bày họa tiết rồi mới đưa vào nung, nếu gặp mưa là coi như hỏng hết. Vào mùa nước lên, không ai bảo ai, nhà làm nghề cũng như nhà không làm nghề mọi người đồng lòng giúp nhau chuyển đồ lên cao bảo quản cẩn thận để sau khi nước rút, làng lại có những sản phẩm đặc trưng mang thương hiệu gốm Thanh Hà.

Hiện nay, người dân làng gốm Thanh Hà đang làm đúng những công việc và theo đúng cách cha ông họ đã làm trong những thế kỷ trước. Với đôi bàn tay khéo léo, điêu luyện của những nghệ nhân, những người thợ, những chiếc lọ hoa xinh xắn, bình trà, bình rượu, ấm, chum, hũ, vại và con vật thân thương gắn liền cuộc sống đời thường cứ lần lượt ra đời. Những ngôi nhà cổ ở Hội An đang cần đến bàn tay khéo léo và khối óc thông minh, sáng tạo của những người thợ gốm Thanh Hà. Họ chính là đối tác duy nhất có thể cung cấp những viên gạch xây, viên ngói lợp đúng tiêu chuẩn, hợp quy cách, chất lượng cao phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn Hội An, Di sản Văn hóa thế giới và từng bước đem lại cuộc sống ấm no cho người dân nơi đây.

Bài và ảnh: TRỊNH SƠN
BÁO NHÂN DÂN

Phú Thọ: Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền Quốc mẫu Âu Cơ được xây trên núi Ốc Sơn, còn gọi là núi Vặn, cao trên 147m so với mặt biển. Nằm trong khu di tích đền Hùng, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Đền Quốc mẫu Âu Cơ được thiết kế dựa trên nền kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn văn hóa của thời kỳ Đông Sơn. Đền thờ Mẹ Âu Cơ, người mẹ huyền thoại, linh thiêng, huyền diệu có công đầu trong việc khai hoang, mở cõi của dân tộc.

Cổng tam quan Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Cổng tam quan Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Tổng thể kiến trúc gồm có: nhà Tả vu, nhà Hữu vu, nhà bia, trụ biểu, tứ trụ, cổng tam quan, nhà đón tiếp, nhà hành lễ, sân, vườn, hệ thống đường bậc, bãi quay xe.
Đường từ chân núi lên đến cửa đền gồm 553 bậc đá, trên đường đi có nhà đón khách và chỗ dừng chân. Cổng tam quan xây cao 5,8m có ba lối vào, lối chính cao 2,2m, mái cổng lợp dán ngói mũi hài, các đao góc, các hoạ tiết chạm khắc mô phỏng hình chim Lạc. Điểm nhấn của tiền cảnh đền là bia và trụ bia làm bằng đá một mặt khắc chữ nôm, mặt kia khắc chữ quốc ngữ ghi lại thời kỳ xây dựng đền với sự đóng góp công đức của đồng bào cả nước.

Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền được dựng theo kiến trúc truyền thống với cột, khung, sườn, mái, vách ngăn bằng gỗ lim; mái lợp ngói mũi hài, tường xây bằng gạch bát.Khu đền chính gồm một đền thờ chính và hai nhà Tả vu, Hữu vu nằm hai bên, kiến trúc kiểu chữ đinh. Riêng thành lan can được chạm khắc các hoạ tiết hình chim Lạc và các hoạt động văn hóa dân gian thời kỳ Đông Sơn. Nội thất trong đền gồm tượng Mẫu và hai tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng được đúc bằng đồng với khối lượng khoảng 2 tấn. Tượng Mẫu Âu Cơ cơ bản lấy theo mẫu tượng đang thờ ở đền Mẫu Âu Cơ tại xã Hiền Lương (huyện Hạ Hòa – Phú Thọ), chỉ điều chỉnh đôi chút. Vật liệu được lựa chọn công phu, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Các nhang án, đại tự, câu đối, bệ đặt trống đồng, giá treo chuông, treo chiêng, y môn… được sơn son thiếp vàng trên chất liệu gỗ quí. Hai bên Tả vu là hai bức phù điêu khắc họa cảnh 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi bằng chất liệu gò đồng.

Do đặc thù nằm trên núi cao có độ chênh cốt lớn nên hệ thống sân vườn được xây dựng khá kỳ công, xung quanh đền chính được xây kè bằng 3 lớp, lớp trong cùng là tường chắn bằng bê tông cốt thép, lớp giữa xây bằng đá hộc, lớp ngoài ốp bằng đá ong lấy từ vùng làng cổ Sơn Vi, Thanh Đình huyện Lâm Thao (Phú Thọ). Công trình đã sử dụng hơn 8.000m³ đá, 5.300 tấn cát sỏi, 68.000 tấn xi măng, 250m³ gỗ lim.

 

 

Nhà miền quê cổ tích

Đây là những căn nhà vùng miền quê mà bất cứ ai yêu thích những câu chuyện cổ tích châu Âu của anh em nhà Grymm cũng có thể tưởng tượng ra.

Nhà miền quê màu vàng

Căn nhà miền quê với tường phủ sơn vàng và mái rạ.

Nhà có dây leo thường xuân

Một căn nhà trong rừng được phủ bởi dây leo thường xuân.

Nhà quê có thảm cỏ

Một căn nhà vườn với thảm xanh thực vật.

Nhà vùng quê ốp đá

Một nhà vùng quê ốp đá cùng mảng vườn đa màu sắc.

Nhà châu Âu trên sông

Căn nhà châu Âu trên sông.

Nhà vùng quê trên đồi

Một căn nhà miền quê mái rạ trên đồi đá.

Nhà miền quê với tường đỏ

Một căn nhà gỗ trong thung lũng.

Nhà tranh mái rạ

Một căn nhà tranh mái rạ đẹp.

Nhà miền quê cổ tích

Bạn có nghĩ rằng bảy chú lùn đang sống trong ngôi nhà này?

Nhà miền quên bên sông

Một căn nhà cổ bên sông trong sắc thu.

Nhà miền quê đẹp kiểu Pháp

Nếu bạn có sở thích với cây cọ và yêu mến một không gian làm việc thoải mái. Bạn có thể lay động mọi giác quan với tâm hồn sáng tạo của bạn trong một căn nhà đẹp ở miền quê nước Pháp.

Luôn nổi tiếng về sự lãng mạn, ngôi nhà nhỏ miền quê này sẽ truyền cảm hứng cho  những sáng tác của bạn bởi đây không phải chỉ là một ngôi nhà.

Nhà Biệt Thự Đẹp tại TPHCM

Mời các bạn chiêm ngưỡng các mẫu biệt thự đẹp tại thành phố Sài Gòn.