Hưng Yên: Đền Kim Đằng

Đền Kim Đằng tọa lạc thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ tướng quân Đinh Điền (một trong những công thần khai quốc Đại Cồ Việt) và phu nhân Phan Thị Môi Nương.

Theo “Đại Nam nhất thống chí”, Đinh Điền là người làng Đại Hữu (nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Thuở nhỏ, ông thường cùng Đinh Bộ Lĩnh và những đứa trẻ cùng làng đi chăn trâu ở Thung Lau (nay là động Hoa Lư, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn) và chơi trò “cờ lau tập trận”. Lớn lên, ông cùng Nguyễn Bặc, Lu Cơ, Trịnh Tú phò tá và giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Sau khi giang sơn thống nhất một mối, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Đinh Điền được Đinh Tiên Hoàng giao chỉ huy 10 đạo quân đi thu phục các sứ quân khác. Trên đường đi, qua trang Đằng Man, tổng An Tảo, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên), thấy thế đất tựa “Thanh Long, Bạch Hổ chầu về”, Đinh Điền liền cho dựng doanh trại và lấy người con gái tên Môi Nương làm vợ.

Đinh Điền mất ngày 17/11 âm lịch năm Kỷ Mão (979). Sau khi ông mất, người dân địa phương đã lập đền thờ trên nền doanh trại để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông.

Đền Kim Đằng

Đền Kim Đằng

Kiến trúc đền mang đậm phong cách thời Lê Trung Hưng (1533 – 1789), gồm Tiền tế và Hậu cung, được xây theo hình chữ đinh. Không gian đền khá rộng, trồng nhiều cây xanh tạo vẻ mát mẻ, thanh tịnh cho toàn bộ kiến trúc. Tiền tế được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái ngói vẩy rồng với 4 góc đao cong đắp nổi đầu rồng. Kết cấu các bộ vì kèo kiểu quá giang đơn giản, được nâng đỡ bằng hệ thống cột gỗ lim vững chắc. Trên đường bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, 2 đầu kìm đắp “lưỡng ngư” (2 con cá chép). Phần cổ diêm giữa hai mái đắp 4 chữ Hán “Đinh Đại Linh Từ”.

Kế tiếp Tiền tế là Hậu cung với mái lợp ngói mũi hài, gồm 3 gian. Kết cấu các vì kèo kiểu con chồng, đấu sen. Trên các con rường được chạm nổi hình hoa lá cách điệu. Tại gian giữa Hậu cung đặt bức tượng tướng quân Đinh Điền và phu nhân Phan Thị Môi Nương trong tư thế ngồi tọa thiền.

Ngoài kiến trúc đặc sắc, đền còn lưu giữ một số bức hoành phi, câu đối ca ngợi những người có công với triều đại nhà Đinh cùng nhiều cổ vật có giá trị như: tượng thờ mang phong cách kiến trúc thế kỷ 17 – 18, 4 đạo sắc phong thời Lê, ngai thờ thời Lê.

Nhằm phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, tri ân công lao của tướng quân Đinh Điền cũng như đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh của người dân địa phương và du khách, lễ hội đền Kim Đằng được tổ chức từ ngày 15 – 17/11 âm lịch hàng năm. Trong những ngày diễn ra lễ hội, ngoài các nghi thức như lễ dâng hương, rước kiệu, còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống khu vực đồng bằng Bắc Bộ như: chọi gà, múa lân, hát nói, hát trống quân, múa rối nước…

Đền Kim Đằng đã được Bộ VHTTDL xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 20/12/1997.

Phú Thọ: Khánh thành Chùa Thiên Quang

Ngày 9/2, tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức lễ khánh thành Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ thuộc Di tích lịch sử Đền Hùng.

Dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ được tỉnh Phú Thọ phê duyệt từ cuối năm 2012, với mức đầu tư hơn 67 tỷ đồng bao gồm các hạng mục như tu bổ chùa Thiên Quang, phục hồi nhà Tổ và hai dãy hành lang.

Theo thiết kế, dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ về cơ bản giữ nguyên bố cục mặt bằng, kiểu dáng và kích thước kiến trúc cũ. Nền móng giữ nguyên cốt nền cũ, bóc lớp gạch lát cũ rồi lát lại bằng gạch bát theo mạch chữ công, gia cố móng chân cột, móng tường; thay mới 50% mái ngói lợp, 60% ngói lót, 30% hoành và 40% rui…

Ngoài ra, dự án cũng thay thế 7 cột bị hư hỏng nhằm làm tăng khả năng chịu lực của ngôi chùa và nhiều hạng mục công trình khác.

 

Chùa Thiên Quang

Chùa Thiên Quang

Ông Lưu Quang Huy, Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng cho biết, sau khi công trình hạ giải xong, Hội đồng đánh giá di tích nghiên cứu, đánh giá các cấu kiện đã được hạ giải, thống nhất kết luận các cấu kiện rui, hoành đã bị mối, mục, phần còn lại tuy chất liệu gỗ còn tốt nhưng bị võng, cong vênh nên không thể tái sử dụng để thi công lắp đặt công trình cần phải thay mới…

Sau hơn 4 tháng thi công, dự án tu bổ, tôn tạo Chùa Thiên Quang và cảnh quan khu vực Đền Hạ do Công ty cổ phần Him Lam-Chi nhánh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội tài trợ đã được hoàn thành đưa vào sử dụng, với tổng số tiền đầu tư hơn 60 tỷ đồng.

Công trình hoàn thành có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phục vụ nhân dân cả nước mỗi khi hành hương về cội nguồn thắp nén hương thơm tưởng nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Phú Thọ: Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền Quốc mẫu Âu Cơ được xây trên núi Ốc Sơn, còn gọi là núi Vặn, cao trên 147m so với mặt biển. Nằm trong khu di tích đền Hùng, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Đền Quốc mẫu Âu Cơ được thiết kế dựa trên nền kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn văn hóa của thời kỳ Đông Sơn. Đền thờ Mẹ Âu Cơ, người mẹ huyền thoại, linh thiêng, huyền diệu có công đầu trong việc khai hoang, mở cõi của dân tộc.

Cổng tam quan Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Cổng tam quan Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Tổng thể kiến trúc gồm có: nhà Tả vu, nhà Hữu vu, nhà bia, trụ biểu, tứ trụ, cổng tam quan, nhà đón tiếp, nhà hành lễ, sân, vườn, hệ thống đường bậc, bãi quay xe.
Đường từ chân núi lên đến cửa đền gồm 553 bậc đá, trên đường đi có nhà đón khách và chỗ dừng chân. Cổng tam quan xây cao 5,8m có ba lối vào, lối chính cao 2,2m, mái cổng lợp dán ngói mũi hài, các đao góc, các hoạ tiết chạm khắc mô phỏng hình chim Lạc. Điểm nhấn của tiền cảnh đền là bia và trụ bia làm bằng đá một mặt khắc chữ nôm, mặt kia khắc chữ quốc ngữ ghi lại thời kỳ xây dựng đền với sự đóng góp công đức của đồng bào cả nước.

Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền Quốc mẫu Âu Cơ

Đền được dựng theo kiến trúc truyền thống với cột, khung, sườn, mái, vách ngăn bằng gỗ lim; mái lợp ngói mũi hài, tường xây bằng gạch bát.Khu đền chính gồm một đền thờ chính và hai nhà Tả vu, Hữu vu nằm hai bên, kiến trúc kiểu chữ đinh. Riêng thành lan can được chạm khắc các hoạ tiết hình chim Lạc và các hoạt động văn hóa dân gian thời kỳ Đông Sơn. Nội thất trong đền gồm tượng Mẫu và hai tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng được đúc bằng đồng với khối lượng khoảng 2 tấn. Tượng Mẫu Âu Cơ cơ bản lấy theo mẫu tượng đang thờ ở đền Mẫu Âu Cơ tại xã Hiền Lương (huyện Hạ Hòa – Phú Thọ), chỉ điều chỉnh đôi chút. Vật liệu được lựa chọn công phu, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Các nhang án, đại tự, câu đối, bệ đặt trống đồng, giá treo chuông, treo chiêng, y môn… được sơn son thiếp vàng trên chất liệu gỗ quí. Hai bên Tả vu là hai bức phù điêu khắc họa cảnh 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi bằng chất liệu gò đồng.

Do đặc thù nằm trên núi cao có độ chênh cốt lớn nên hệ thống sân vườn được xây dựng khá kỳ công, xung quanh đền chính được xây kè bằng 3 lớp, lớp trong cùng là tường chắn bằng bê tông cốt thép, lớp giữa xây bằng đá hộc, lớp ngoài ốp bằng đá ong lấy từ vùng làng cổ Sơn Vi, Thanh Đình huyện Lâm Thao (Phú Thọ). Công trình đã sử dụng hơn 8.000m³ đá, 5.300 tấn cát sỏi, 68.000 tấn xi măng, 250m³ gỗ lim.

 

 

Đà Nẵng: Đình Bồ Bản

Đình Bồ Bản hiện ở tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.  Đình được xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ 19 bằng thanh tre tại gò miếu Tam Vị.

Đình Bồ Bản lập ra để thờ Thành hoàng, các vị tiền hiền của làng và là nơi sinh hoạt lễ hội hằng năm. Năm 1852, đình được dời về trung tâm làng.

 

Đình Bồ Bản

Đình Bồ Bản

Với tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương, đình được chia làm 3 gian; 2 chái; dài 14,5m; rộng 9,7m; có 36 cột bằng gỗ mít và kiền kiền. Kết cấu kèo, cột cũng được thể hiện theo lối chồng rường giả thủ, đầu các trính chạm đầu rồng, các vì kèo chạm mai, trúc, tùng, lan. Ngoài ra, còn có các loài chim, thú như chim sẻ, khỉ (hầu) và các họa tiết hoa văn, được khắc chạm tinh tế, khéo léo và tỉ mỉ, tạo nên những tác phẩm điêu khắc độc đáo, giàu tính nghệ thuật, có giá trị khoa học.

Đình đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa ngày 04/01/1999.

Đền Mẫu ở Hưng Yên

Đền Mẫu là một danh lam thắng cảnh đẹp của Phố Hiến “Đệ nhất danh lam Phố Hiến”. Đền được xây trên thế đất “Ngọa Long” nhìn ra hồ Bán Nguyệt với một không gian rộng rãi, tạo nên thế “Sơn Diễu Thủy”. Đền thờ bà Dương Quý Phi, được tán xưng là Dương Thiên Hậu. Theo sử sách và Ngọc Phả lưu truyền lại, thì bà là vợ vua Tống Đế Bính. Năm 1279, quân Nguyên xâm lược nước Tống, Vua và hoàng tộc xuống thuyền chạy về phương Nam. Trên đường chạy, họ bị tướng nhà Nguyên là Trương Hoằng Phạm bắt được. Vua Tống cùng một số phi tần không chịu khuất phục đã nhảy xuống biển tuẫn tiết, xác của Dương Quý Phi trôi vào bãi cát, được nhân dân chôn cất chu đáo và lập đền thờ.

Cổng Đền Mẫu

Cổng Đền Mẫu

Từ Tam quan đi vào tới sân, nơi có cây đa và cây si cổ thụ đã có 700 năm tuổi, quấn lấy nhau rủ bóng um tùm làm tăng thêm vẻ trang nghiêm, u tịch. Tòa Đại Bái kiến trúc theo kiểu tám mái lợp ngói vẩy rồng, các đao mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu. Các con rường, đấu sen, trụ chạm hình lá hoa, rồng, phượng, các bẩy chạm hình đầu rồng. Hai bên tòa đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn.Trải qua các triều đại, đền được sửa sang và phong tặng nhiều lần. Đến năm Thành Thái thứ 8, đền được trùng tu với quy mô lớn và có kiến trúc như ngày nay. Cổng Tam quan của đền được xây dựng theo lối kiến trúc chồng diêm hai tầng, tám mái với các đầu đao uốn cong mềm mại. Cửa xây vòm cuốn, hai cột trụ trên đỉnh đắp hai con sấu chầu vào cửa. Trên vòm cuốn có mấy bức đại tự “Dương Thiên Hậu – Tống Triều” kiểu chữ triện và bốn chữ “Thiên Hạ mẫu nghi”. Phía trong Tam quan còn có mấy chữ lớn “Hoa Dương Động” và “Vạn Cổ Hương”.

Đền Mẫu

Đền Mẫu

Tòa Tiền đường gồm 3 gian với lối kiến trúc kiểu chồng rường đấu sen, lộng lẫy với hoành phi, câu đối, đồ tế tự, tán lọng, cờ, y môn, giá cắm đồ binh khí, kiệu bát cống, long đình được sơn son thiếp vàng rực rỡ. Nóc được đắp hình “Lưỡng long chầu nguyệt”, đao rồng chầu, phượng múa rất đẹp và tinh xảo.

Nối Tiền đường là Hậu cung, với 5 gian kiến trúc theo kiểu chồng rường con nhị với 12 cột cái, 6 cột quân, các bức cốn chạm bông hoa, lá mềm mại, bộ cửa bức bàn chạm lộng mai cúc. Dưới ánh sáng mờ ảo của đèn nến, khói hương làm cho không gian vốn tĩnh lặng nơi đây trở nên linh thiêng huyền bí hơn.
Đền Mẫu đã được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử – cấp quốc gia ngày 30/03/1990.Đền Mẫu thực sự là một tác phẩm kiến trúc đẹp, một di tích lịch sử văn hóa vừa uy nghi vừa cổ kính và gần gũi với nhân dân. Lễ hội đền Mẫu được tổ chức rất long trọng từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, được nhân dân trong và ngoài vùng nô nức tham dự.

Hải Phòng: Đình Hàng Kênh

Đình Hàng Kênh tọa lạc tại số 55 phố Nguyễn Công Trứ, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, là một trong những ngôi đình cổ của Hải Phòng.

Đình Hàng Kênh tên chữ là Nhân Thọ đình. Theo các nguồn tài liệu nghiên cứu, đình Hàng Kênh được khởi dựng vào đầu thế kỷ 18, đời vua Lê Dụ Tông. Trải qua hàng trăm năm biến động, đình được tu bổ, dựng lại vào năm Tân Hợi đời Tự Đức (1851).

Đình Hàng Kênh

Đình Hàng Kênh

Đình có kiến trúc hình chữ công bao gồm: Đại đình, tòa ống muống và hậu cung. Ngoài kiến trúc chính còn có hai tòa giải vũ, hồ bán nguyệt.

Tòa đại đình là phần kiến trúc trọng yếu nhất của ngôi đình. Khung tòa nhà làm theo kiểu vi biến thể “Giá chiêng chồng rường con nhị” với 6 hàng cột. Toàn bộ khung chịu lực có 7 bộ vi với 42 cây cột cao hơn 5m, chu vi cột cái gần 2m, được kê trên những chân tảng đá xanh chạm nổi một bông sen xòe cánh, tạo cảm giác như kiến trúc được nở ra trong một đầm sen. Mái đình lợp ngói mũi hài, với 4 đầu đao cong vút như nâng bổng các tàu mái nặng nề bay lên.

Trong lòng đình, ngoại trừ các thân cột và hệ thống hoành, rui còn tất cả thành phần kiến trúc của đình đều chạm khắc trang trí hàng chục loại hoa lá, chim muông, mỗi con một kích cỡ, một phong thái, dáng vẻ khác nhau.

Mài đình Hàng Kênh

Mài đình Hàng Kênh

Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, đình Hàng Kênh còn có giá trị về điêu khắc. Trong đình có hơn 100 mảng chạm khắc mà hình tượng con rồng – một trong “tứ linh” của người Việt là đề tài chủ yếu. Nét độc đáo là hơn 400 con rồng trong các mảng chạm khắc mỗi con một vẻ, mỗi tư thế khác nhau và được tạc theo từng ổ, rồng mẹ rồng con quấn quýt bên nhau giữa cỏ cây hoa lá. Đi trong đình, người xem như lạc vào thế giới của rồng vô cùng sống động, nhộn nhịp, huyền ảo. Những mảng chạm khắc rồng, mây, hoa lá cách điệu nổi trên mặt các tấm ván, dưới chân các chấn song như thách thức cùng thời gian. Gian chính của đình có cửa võng sơn son thiếp vàng được chạm thủng cân xứng. Cửa võng này giống như một bức tranh điêu khắc sống động có hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt, đôi chim phượng xoè cánh, ngựa qua sông, rùa sải chân cùng hồ nước hoa sen. Hiếm có nơi nào các nghệ nhân lại dùng lối “bong hình” hay “chạm lộng” để chạm khắc như nơi đây.

Đình Hàng Kênh không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mà còn bảo lưu được kiến thức ván sàn lòng thuyền độc đáo, hiếm có, đưa đình Hàng Kênh trở thành một di sản văn hóa đặc sắc trong các ngôi đình Việt Nam. Trong đình lưu giữ nhiều hiện vật quý: văn bia ghi tên tuổi những người của làng đỗ đạt từ 1460 đến 1693. Đình Hàng Kênh còn nhiều đồ tế khí như chuông, đỉnh đồng, khánh đồng, hạc, lục bình, bát hương bằng sứ, tượng, các hoành phi, câu đối, cửa võng, kiệu bát cống, voi ngựa bằng gỗ được chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng lộng lẫy với các hoa văn phong phú, sinh động.

Đình Hàng Kênh thờ “Quốc tổ trung hưng” Ngô Quyền, người có công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra một kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc Việt Nam.

Hàng mấy trăm năm đã trôi qua, biết bao đổi thay và biến động, đình Hàng Kênh vẫn là một công trình kiến trúc nghệ thuật hoàn mĩ, một tượng đài kỷ niệm độc đáo về Ngô Vương Quyền trên đất Hải Phòng. Trong đình có bia ca tụồng trận Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh Nam Hán. Đình còn có tượng Ngô Quyền và mô hình một loại thuyền chiến. Đến thăm đình Hàng Kênh, du khách như được khơi dậy từ cõi sâu tâm trí những cảm xúc về cội nguồn và tấm lòng tôn kính Đức Ngô Vương. Trước 1945, ở Hàng Kênh thường mở hội cầu phúc vào trung tuần tháng hai âm lịch hàng năm để tưởng nhớ Ngô Quyền; thường có hát ả đào, múa hạc gỗ, hát chèo cổ và nhiều trò vui tạo không khí cầu nhân khang, vật thịnh vào dịp đầu xuân.

Với những giá trị đặc sắc, hiếm có, đình Hàng Kênh được nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1962.

Ninh Bình: Đền Thái Vy

Đền Thái Vy được xây dựng ở phía tây thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tông – ông vua có công rất lớn đối với làng Văn Lâm.

Đền Thái Vy được xây dựng theo kiểu ”nội công, ngoại quốc”. Trước đền có giếng Ngọc xây bằng đá xanh. Qua nghi môn phía bên phải là gác chuông hai tầng, tám mái, xây theo kiểu chồng diêm. Gác chuông làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, các đầu đao cong vút như đuôi chim phượng. Bên hông có quả chuông đúc năm 1698.Từ sân rồng bước theo các bậc đá có độ cao 1,2m là đến Ngũ Đại môn (5 cửa lớn), có 6 cột đá tròn song song đều được chạm khắc nổi chầu và chính điện. Qua 5 cửa lớn là đến Bái Đường 5 gian uy nghi cũng có 6 cột đá vuông chạm khắc câu đối ở mặt ngoài, các mặt khác chạm khắc nổi: long, ly, quy, phượng, cá chép hoá long.

Đền Thái Vy

Đền Thái Vy

Hình thức tổ chức lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội .Phần lễ được tiến hành hai hình thức: rước kiệu và tế.Phần hội ở đền Thái Vy thực sự là phần vui chơi giải trí của nhân dân và những người đến dự. Có các trò múa lân, múa rồng, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền…Tiếp theo 4 hàng cột, đều được chạm khắc nổi long vân.Qua Trung đường vào 5 gian Chính tẩm cũng có 8 cột đá tròn được chạm khắc nổi: cầm, kỳ, thi, hoạ. Trong cung khám của Chính Tẩm giữa là tượng Trần Thánh Tông, bên trái là tượng Trần Thái Tông, bên phải là tượng hoàng hậu Thuận Thiên. Ngoài ra, trong Chính Tẩm còn phối thờ Trần Nhân Tông (bài vị thờ), Trần Anh Tông. Từ xưa, hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 3 (âm lịch), lễ hội đền Thái Vy được tổ chức, gọi là quốc lễ. Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các vua Trần – những người có công lớn với dân, với nước.

Bia đá Đền Thái Vy

Bia đá Đền Thái Vy

Đến dự lễ hội đền Thái Vy là dịp chúng ta đi thăm các danh thắng ở đây, ngắm nhìn cảnh núi non, mây nước bao la, cũng là dịp thả bay trong gió những lo toan trần tục để hướng về cội nguồn, tưởng nhớ công lao các vua Trần.